Ngành Kỹ thuật xây dựng (Civil Engineering)

Mã ngành 7580201

+  Chuyên ngành Xây dựng dân dụng và công nghiệp (Civil and Industrial Constructions), mã số xét tuyển 7580201.1

+  Chuyên ngành Kỹ thuật kết cấu công trình (Structural Engineering), mã số xét tuyển 7580201.2

+  Chuyên ngành Kỹ thuật nền móng và công trình ngầm (Foundation and Underground Engineering), mã số xét tuyển 7580201.3

 

Giới thiệu về ngành

Ngành xây dựng chiếm vị thế trung tâm trong các ngành của xã hội bởi ngành này tạo cơ sở hạ tầng cho các ngành khác phát triển. Ngành xây dựng chiếm khoảng 6% GDP toàn cầu, trong khi ở Việt Nam ngành xây dựng luôn tăng trưởng mạnh, xấp xỉ 9%/năm trong các năm gần đây,. Tỷ lệ đô thị hóa ở nước ta ở mức cao, xấp xỉ từ 35 đến 40%, kéo theo nhu cầu nhà ở cũng như các công trình hạ tầng tăng cao. Dự báo nhu cầu nhân lực ngành xây dựng mỗi năm tăng thêm 400 đến 500 ngàn người. Các lý do trên tạo nhu cầu cao về việc làm trong ngành xây dựng ở nước ta.

Ngành Kỹ thuật xây dựng được đào tạo tại ĐH GTVT TP.HCM từ năm 2007 và nhiều thế hệ kỹ sư đã tốt nghiệp và đang làm việc tại nhiều tập đoàn và công ty lớn hoạt động về xây dựng như Coteccons, Hòa Bình, CC1, Nagecco, Nam Công, Delta, An Phong v.v… Điều đó đã khẳng định được chất lượng đào tạo của Nhà trường thông qua nhiều tiêu chí nhằm đáp ứng yêu cầu cao và chuyên nghiệp của nhà tuyển dụng hiện nay.

Ngành kỹ thuật xây dựng trang bị cho sinh viên những kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ làm việc chuyên nghiệp để đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội. Sinh viên được học lý thuyết và thực hành thông qua nhiều môn học hấp dẫn dưới phương pháp dạy và học chủ động, sáng tạo cùng với sự trải nghiệm thông qua thực tập tại các công ty xây dựng nhằm tạo hứng thú và kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên.

Cơ sở và năng lực đào tạo

  • Đội ngũ giảng viên giỏi về chuyên môn, nhiều kinh nghiệm thực tế và luôn tận tâm trong giảng dạy. Nhiều giảng viên có trình độ tiến sĩ được đào tạo tại nhiều trường đại học uy tín ở nước ngoài.
  • Cơ sở vật chất như các phòng thí nghiệm và thực hành được trang bị hiện đại, nhiều thiết bị đạt chuẩn quốc tế.
  • Chương trình đào tạo được rà soát và cập nhật thường xuyên;
  • Tổ chức đào tạo được vận hành theo ISO 9001:2015.

Sự giống và khác biệt giữa 3 chuyên ngành

Cả 3 chuyên ngành đều có cùng thời gian đào tạo 4.5 năm, trang bị các kiến thức và kỹ năng chung về ngành kỹ thuật xây dựng nhằm đào tạo người kỹ sư có thể thực hành thiết kế và thi công trọn vẹn các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp với các quy mô khác nhau. Tuy nhiên mỗi chuyên ngành có sự khác biệt theo hướng chuyên môn:

  • Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp: người học được trang bị nhiều hơn các kiến thức về kỹ thuật, tổ chức thi công và quản lý xây dựng;
  • Kỹ thuật Kết cấu công trình: người học được trang bị nhiều hơn các kiến thức phục vụ cho phân tích và thiết kế kết cấu công trình xây dựng;
  • Kỹ thuật Nền móng và công trình ngầm: người học được trang bị nhiều hơn các kiến thức về thiết kế và thi công các bộ phận/kết cấu ngầm như móng, tầng hầm, tường chắn, hầm chui…

Kiến thức và kỹ năng đạt được sau tốt nghiệp

Sau khi tốt nghiệp, người học có kiến thức cơ bản về toán học, khoa học tự nhiên; các kiến thức về cơ sở ngành, các nguyên lý cơ bản về cơ học, kiến trúc, vật liệu, hệ thống kỹ thuật công trình và công nghệ xây dựng. Sau đó là các kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành như thiết kế, kỹ thuật và tổ chức thi công; phân tích kinh tế, quản lý các loại công trình dân dụng và công nghiệp. Từ đó, kỹ sư hoàn toàn có thể tham gia, chủ trì thiết kế, thi công và giám sát công trình xây dựng.

Chương trình đào tạo cũng trang bị cho người học nhiều kỹ năng chuyên môn như tin học và ngoại ngữ (tiếng Anh) để người học có thể thích ứng và làm việc ngay sau khi ra trường, đặc biệt đáp ứng môi trường làm việc cho công ty nước ngoài.

Cơ hội việc làm và học tập nâng cao sau tốt nghiệp

Kỹ sư ngành Kỹ thuật xây dựng có thể làm việc trong tất cả các lĩnh vực xây dựng với tư cách kỹ sư tư vấn thiết kế, kỹ sư tư vấn giám sát, thi công và quản lý trong các dự án xây dựng dân dụng, công nghiệp.

Theo khảo sát, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm đúng ngành năm đầu tiên là trên 90%. Nhiều kỹ sư ra trường đang nắm giữ nhiều vị trí cao trong quản lý và điều hành như trưởng phòng, chủ trì thiết kế, chỉ huy trưởng công trường, giám sát trưởng, phó giám đốc và giám đốc nhiều doanh nghiệp xây dựng. Ngoài ra, kỹ sư cũng có thể lựa chọn học tập nâng cao trình độ chuyên sâu như thạc sĩ và tiến sĩ, và có thể làm việc với tư cách cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ tại các viện nghiên cứu; làm cán bộ giảng dạy tại các cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng.

Dự báo nhu cầu nhân lực ngành xây dựng mỗi năm tăng thêm từ 400 – 500 ngàn người do nước ta cần xây dựng nhiều công trình nhà ở (tăng khoảng 50 triệu m2 sàn/năm) và hạ tầng. Đây sẽ là cơ hội lý tưởng để kỹ sư ngành Xây dựng dễ dàng tìm được việc làm với mức thu nhập cao.

Ngoài ra, kỹ sư xây dựng cũng có thể làm việc cho các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN bởi thị trường xây dựng các nước khu vực này rất năng động và phát triển mạnh; do đó tạo nhiều cơ hội việc làm cho kỹ sư xây dựng Việt Nam. Đã có nhiều kỹ sư Việt Nam làm xây dựng tại Singapore, Thái Lan, Campuchia, Malaysia và Myanmar.

 

 

Trả lời